Lịch sử hình thành tỉnh Tuyên Quang gắn liền với tiến trình xác lập, quản lý và bảo vệ vùng biên viễn phía Bắc của Tổ quốc. Vùng đất Tuyên Quang ngày nay (thuộc hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang trước khi hợp nhất) có quá trình hình thành, phát triển gắn với tên gọi, biến đổi về địa giới và tổ chức đơn vị hành chính qua các thời kỳ lịch sử.
Buổi đầu các Vua Hùng dựng nước, vùng đất Tuyên Quang nằm trong bộ Vũ Định của nhà nước Văn Lang[1]. Là vùng đất cổ, “luôn luôn là phên dậu của Trung châu, cũng là nơi địa đầu quan yếu” của Tổ quốc.
Từ thế kỷ X, trong quá trình xây dựng nhà nước độc lập tự chủ, triều đình phong kiến dân tộc đã bắt đầu chia đặt đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, giai đoạn này trong các đạo, lộ của nhà Đinh, Tiền Lê và thời Lý chưa có tên gọi Tuyên Quang.
Đến thời nhà Trần, lần đầu tiên tên gọi Tuyên Quang xuất hiện trong thư tịch cổ với tên gọi lộ Tuyên Quang.
Vùng đất Tuyên Quang (bao gồm cả Hà Giang) lúc đó thuộc vào Tây đạo. Đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466), Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo thừa tuyên, đặt Thừa tuyên Tuyên Quang gồm một phủ (thủ phủ là Yên Bình), một huyện (Phúc Yên) và 5 châu: Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Bình Nguyên, Bảo Lạc. Đến năm Hồng Đức 21 (năm 1490), Đạo Thừa tuyên đổi tên là xứ Tuyên Quang, tên phủ, huyện không thay đổi.
Khi Gia Quốc Công Vũ Văn Mật có công phò Lê đánh Mạc được cai quản một vùng đất rộng lớn gồm xứ Tuyên Quang và phủ Hưng Hóa (tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc) đặt tên là Dinh An Tây (Trung tâm là đất Đại Đồng, nay thuộc phường An Tường).
Năm 1802, triều Nguyễn được thiết lập, Tuyên Quang là một trấn, đứng đầu trấn có chức Trấn thủ và các chức Hiệp trấn, tham hiệp giúp việc. Năm 1831, vua Minh Mệnh tiến hành cải cách bộ máy hành chính toàn quốc, chia định địa hạt từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh[2]. Thời điểm này được ghi chép trong Đại Nam thực lục chính biên: "...Tân Mão, năm Minh Mệnh thứ 12, mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1 làm lễ Đông hưởng..."[3], theo đó ngày 04/11/1831 được chọn là ngày thành lập tỉnh. Tỉnh Tuyên Quang lúc đó có 1 phủ, 1 huyện và 5 châu, gồm: Phủ Yên Bình; huyện Hàm Yên và các châu: Vị Xuyên, Thu Vật, Đại Man, Lục Yên, Bảo Lạc. Về địa giới hành chính, tỉnh Tuyên Quang phía bắc giáp tỉnh Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc), phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và Thái Nguyên, phía Nam giáp Sơn Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội) và Hưng Hóa (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), phía Tây giáp Lào Cai.
Như vậy, tên gọi Tuyên Quang xuất hiện từ thời Trần và tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, trước năm 1831, Tuyên Quang chưa được gọi là tỉnh mà gọi là châu, trấn, thừa tuyên, xứ... Từ năm 1831, Tuyên Quang mới chính thức trở thành một tỉnh trực thuộc triều đình phong kiến Việt Nam.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, địa giới hành chính Tuyên Quang nhiều lần thay đổi. Năm 1891, chính quyền thực dân xóa bỏ tỉnh Tuyên Quang, phân chia địa bàn vào các đạo quan binh; đến năm 1900, tỉnh Tuyên Quang được thành lập lại. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hai địa phương tiếp tục trải qua những điều chỉnh địa giới, tổ chức quản lý phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, năm 1976, tỉnh Tuyên Quang sáp nhập với tỉnh Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên. Do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, năm 1991, tỉnh Hà Tuyên chia tách thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.

Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, ngày 12/4/2025 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 60-NQ/TW về việc thực hiện chính quyền hai cấp, theo đó quyết định hợp nhất tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang lấy tên là tỉnh Tuyên Quang. Thực hiện chủ trương của Đảng, ngày 16/6/2025 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1684/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Tuyên Quang năm 2025. Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Tuyên Quang mới chính thức đi vào hoạt động trên cơ sở sáp nhập tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang. Đây là bước đi có ý nghĩa chiến lược trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, đồng thời mở ra không gian phát triển mới, toàn diện và bền vững cho khu vực Trung du - Miền núi phía Bắc.
Những lần điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh đã phản ánh yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước trong từng thời kỳ, đồng thời cho thấy mối liên hệ lịch sử sâu sắc giữa hai vùng đất.
II- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ VẺ VANG TRONG 195 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH TUYÊN QUANG (1831 - 2026)
1. Tuyên Quang giai đoạn 1831 - 1945
Trong thời kỳ phong kiến cuối thế kỷ XIX và dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Nhân dân các dân tộc trên địa bàn Tuyên Quang phải đối mặt với nhiều áp bức, bóc lột, nhưng luôn giữ vững tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm và bảo vệ quê hương. Dưới ách cai trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai, Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang và Hà Giang liên tiếp nổi dậy đấu tranh. Tại Hà Giang, tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mông ở Đồng Văn năm 1903 do Sùng Mí Chảng lãnh đạo; cuộc nổi dậy của đồng bào Nùng ở Hoàng Su Phì năm 1905 do Triệu Tài Lộc chỉ huy; phong trào đấu tranh ở Đường Thượng những năm 1911 - 1912 và các cuộc đấu tranh chống bắt phu, thu thuế tại Bắc Quang, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì... Ở Tuyên Quang, tiêu biểu có phong trào đấu tranh hưởng ứng phong trào Cần Vương, tham gia vào hoạt động của nghĩa quân Đề Thám, phong trào yêu nước để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh và phản đối bản án của thực dân Pháp đối với nhà cách mạng Phan Bội Châu…
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam dâng lên mạnh mẽ. Chỉ vài năm sau khi ra đời, cơ sở của Đảng đã được xây dựng ở hầu khắp các thành phố, thị xã lớn. Tháng 6/1937, đồng chí Hoàng Văn Lịch được Đảng Cộng sản Đông Dương điều về hoạt động tại tỉnh Tuyên Quang. Ngày 20/3/1940, Chi bộ Mỏ Than được thành lập tại nhà đồng chí Cả Kiến (Ninh Văn Kiến), đồng chí Vũ Mùi được chỉ định làm Bí thư. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên của tỉnh, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng địa phương, đưa cuộc đấu tranh của công nhân và Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong cao trào cách mạng năm 1945, khởi nghĩa Thanh La thắng lợi đêm 10/3/1945, tiếp đó là sự ra đời của châu Tự Do. Tháng 5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Tân Trào lựa chọn nơi đây trở thành Thủ đô Khu giải phóng. Tại đây đã diễn ra Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân (tháng 8/1945), đưa ra những quyết định lịch sử cho Tổng khởi nghĩa. Đến ngày 22/8/1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Tuyên Quang thắng lợi. Trên địa bàn Hà Giang, phong trào cách mạng từng bước phát triển, tạo tiền đề cho việc xây dựng chính quyền cách mạng. Những sự kiện lịch sử trọng đại ấy làm nên giá trị bền vững của truyền thống quê hương cách mạng, trở thành niềm tự hào và trách nhiệm của các thế hệ hôm nay.
2. Tuyên Quang thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng tại vùng đất Tuyên Quang và Hà Giang đứng trước nhiều thử thách. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân các dân tộc vừa xây dựng, củng cố chính quyền, phát triển sản xuất, vừa chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp sức cùng cả nước giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tại Tuyên Quang: Tháng 9/1945, dưới sự chủ trì của đồng chí Tạ Xuân Thu, Hội nghị Đảng bộ (tổ chức tại Nhà Đỏ, Nông Tiến) đã thảo luận, đề ra các biện pháp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng Đảng, củng cố chính quyền Nhân dân, thành lập tiểu đoàn tự vệ... từng bước ổn định và cải thiện tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh.
Sau cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946, Tỉnh ủy Tuyên Quang khẩn trương kiện toàn bộ máy hành chính các cấp và lập thêm các cơ quan giúp việc (như Ban Canh nông, Bình dân học vụ...). Đến giữa năm 1946, toàn tỉnh hoàn thành việc sắp xếp gồm 5 huyện và 1 thị xã.
Năm 1948, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị đại biểu toàn tỉnh lần thứ I (ngày 02/4/1948) và lần thứ II (tháng 9/1948). Trong đó, Hội nghị lần thứ II đã ban hành Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, củng cố tổ chức Đảng các cấp và duy trì nguyên tắc tự phê bình, phê bình. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy chú trọng phát triển văn hóa - xã hội nhằm xóa bỏ văn hóa nô dịch của Pháp và xây dựng nền văn hóa mới. Những kết quả đạt được đã tạo chuyển biến sâu sắc, góp phần quan trọng vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc của tỉnh.
Tháng 4/1951, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I được tổ chức. Đảng bộ tỉnh xác định phát triển sản xuất, tiết kiệm là công tác trọng tâm, xuyên suốt; công tác kinh tế, tài chính đặt lên hàng đầu, mọi công việc song song tiến hành. Năm 1954, tỉnh đã tổ chức được 665 tổ đổi công mới, chấn chỉnh 947 tổ. Những hoạt động này tạo cơ sở tốt cho việc động viên Nhân dân tham gia phát triển văn hoá, nghệ thuật, khắc phục tư tưởng coi nhẹ văn nghệ dân tộc thiểu số và sự tự ti về vốn văn hoá, văn nghệ của đồng bào dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tuyên Quang là Thủ đô kháng chiến, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều cơ quan Trung ương ở, làm việc, lãnh đạo cuộc kháng chiến. Nhân dân các dân tộc vừa bảo vệ an toàn căn cứ địa, vừa tích cực sản xuất, vận chuyển, huy động sức người, sức của phục vụ các chiến dịch, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.
Trong những năm kháng chiến, Tuyên Quang không chỉ là địa bàn đứng chân an toàn của cơ quan lãnh đạo Trung ương mà còn là nơi hội tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng căn cứ địa với tổ chức sản xuất, bảo vệ và phục vụ tiền tuyến. Từ việc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, mở rộng bình dân học vụ đến củng cố tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể, mọi nhiệm vụ đều hướng tới mục tiêu kháng chiến, kiến quốc. Chính trong thử thách, truyền thống yêu nước, tinh thần trách nhiệm và sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân tiếp tục được bồi đắp, góp phần làm nên vị thế Thủ đô kháng chiến của Tuyên Quang.
Tại địa bàn Hà Giang: Chính quyền cách mạng được củng cố, lực lượng vũ trang và các đoàn thể cứu quốc phát triển, vừa đấu tranh chống các lực lượng phản động, vừa đẩy mạnh sản xuất và bảo vệ địa bàn biên giới. Từ ngày 10 đến 13/4/1950, Đảng bộ Hà Giang tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, khẳng định quyết tâm đoàn kết các dân tộc, xây dựng hậu phương, góp phần bảo vệ căn cứ cách mạng Việt Bắc và chi viện cho kháng chiến.
Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân Hà Giang vừa đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lực lượng vũ trang, vừa phối hợp với bộ đội chủ lực trong các chiến dịch Biên giới, Lê Hồng Phong I, II và đấu tranh chống các lực lượng phản động, bảo vệ địa bàn chiến lược. Những đóng góp ấy cùng với sự chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến đã thể hiện rõ vai trò hậu phương của Hà Giang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Cùng với chiến đấu bảo vệ địa bàn, Nhân dân các dân tộc Hà Giang tích cực tăng gia sản xuất, phục vụ tiền tuyến, huy động gần 2 triệu ngày công và 27.500 tấn lương thực chuyển ra mặt trận; đồng thời thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Đó là những đóng góp thiết thực vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến.
Đối với Hà Giang, địa bàn biên giới và hậu phương của căn cứ địa Việt Bắc đặt ra nhiệm vụ vừa bảo vệ địa bàn, giữ vững chính quyền cách mạng, vừa chi viện cho các chiến trường. Quân và dân Hà Giang tham gia phục vụ Chiến dịch Biên giới, phối hợp với bộ đội chủ lực đấu tranh chống các lực lượng phản động, giữ gìn an ninh vùng biên. Các phong trào sản xuất, tiết kiệm, phát triển giáo dục, chăm lo đời sống Nhân dân được triển khai trong điều kiện hết sức gian khổ. Sự đóng góp bền bỉ ấy là một bộ phận quan trọng trong thành tích chung của quân và dân Việt Bắc, đồng thời tạo nền tảng cho Hà Giang bước vào thời kỳ xây dựng mới sau năm 1954.
3. Tuyên Quang thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang tập trung khôi phục, phát triển kinh tế, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời thực hiện nhiệm vụ hậu phương lớn, góp sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược phía Bắc.
Tại địa bàn Tuyên Quang: Sau ngày hoà bình lập lại, Đảng bộ và Nhân dân bắt tay vào thực hiện công cuộc khôi phục kinh tế, trọng tâm là khôi phục sản xuất nông nghiệp, cốt yếu là sản xuất lương thực; tiếp tục đấu tranh để thi hành đúng Hiệp định đình chiến; tiếp tục củng cố Đảng, bồi dưỡng, giáo dục đảng viên sau giảm tô; tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng, đồng thời tích cực củng cố chính quyền và các tổ chức quần chúng... Với những cố gắng to lớn, Tuyên Quang đã thu được nhiều kết quả, các lĩnh vực có thành tựu nổi bật là sản xuất lương thực, chăn nuôi, giao thông, vận tải, tăng cường mậu dịch quốc doanh...
Trong giai đoạn 1961 - 1965, Tuyên Quang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, từ ngày 19 đến 20/3/1961, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, động viên và căn dặn tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết xây dựng quê hương. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đời sống kinh tế, xã hội, chính trị của tỉnh đã có những biến đổi sâu sắc, căn bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, đưa đại bộ phận nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, hợp tác xã hội chủ nghĩa, phong trào hợp tác xã được củng cố và phát triển... Tỉnh đã làm tốt công tác quốc phòng, an ninh, bảo vệ thành quả của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần củng cố miền Bắc, chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam.
Trong những năm 1965 - 1975, Tuyên Quang thực hiện đồng thời nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Quân và dân Tuyên Quang đã kiên cường chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ; trong giai đoạn 1965 - 1968 bắn rơi 16 máy bay, năm 1972 bắn rơi 5 máy bay Mỹ. Phong trào thi đua lao động, sản xuất, xây dựng hậu phương và đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến được đẩy mạnh, góp phần vào thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong hơn hai thập kỷ chiến đấu và xây dựng với truyền thống đoàn kết, Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã làm nên những chuyển biến cách mạng trên quê hương, đó là sự ra đời của quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; sự ra đời của ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp chuyển biến từ sản xuất theo lối "tự cung, tự cấp, manh mún" sang sản xuất tập thể. Đảng bộ tỉnh trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt, lãnh đạo Nhân dân thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng, củng cố hậu phương, cùng cả nước hoàn thành nhiệm vụ cách mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tại địa bàn Hà Giang: Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc tập trung khôi phục kinh tế, thực hiện cải cách dân chủ, phát triển tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp, từng bước cải thiện đời sống. Năm 1964, trên địa bàn Hà Giang có 513 hợp tác xã với 16.297 hộ, chiếm 52,21% số hộ nông dân. Giáo dục, y tế, văn hóa được mở rộng; công tác quốc phòng, an ninh và bảo vệ biên giới được tăng cường. Đặc biệt, tuyến đường Hạnh Phúc từ thị xã Hà Giang đi Mèo Vạc dài 166 km hoàn thành ngày 10/3/1965, là biểu tượng sinh động của ý chí, tinh thần đoàn kết và sức lao động bền bỉ của đồng bào các dân tộc. Đặc biệt, từ ngày 26 đến 27/3/1961, Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc Hà Giang vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Trong dịp này, Bác Hồ đã phát biểu căn dặn đối với các đại biểu dự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III và Đại hội sản xuất Hà Giang. Bác Hồ khen ngợi những cố gắng, tiến bộ của Đảng bộ nhân dân các dân tộc Hà Giang trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Trong bài nói chuyện này, Bác hết sức quan tâm tới phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Để xứng đáng là người làm chủ của đất nước cần phải: (1) Đoàn kết chặt chẽ; (2) Ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng và củng cố tổ đổi công và hợp tác xã; (3) Để sản xuất tốt phải có đủ nước, đủ phân bón và cải tiến nông cụ; (4) Phát triển chăn nuôi cho tốt; (5) Khai thác lâm thổ sản, bảo vệ và trồng cây gây rừng; (6) Chú ý giữ gìn vệ sinh để bảo vệ sức khỏe; (7) Cố gắng xóa mù chữ; (8) Ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao khắc phục khó khăn xây dựng đời sống mới.
Công tác văn hóa - xã hội được tổ chức và đẩy mạnh phong trào xoá mù chữ, học bổ túc văn hoá, mở thêm các trường phổ thông ở khắp các huyện. Phong trào thi đua “hai tốt” (dạy tốt và học tốt) tiếp tục được duy trì và phát triển. Đến cuối năm 1962, tỉnh Hà Giang căn bản xóa mù chữ cho Nhân dân vùng thấp là huyện Bắc Quang, thị xã Hà Giang và 4 xã vùng thấp thuộc huyện Vị Xuyên. Tại Đại hội chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến và cán bộ gương mẫu toàn tỉnh lần thứ III (ngày 22/4/1963), các xã: Cao Bồ, Bằng Lang, Khuôn Lùng, Yên Bình (nay thuộc xã Quang Bình) được tuyên dương là những xã có thành tích xuất sắc trong phong trào xóa mù chữ và phát triển giáo dục. Đến năm 1964, các cơ sở y tế, bệnh viện, bệnh xá, các đội, trạm chuyên khoa y tế xã đã phát triển mạnh về số lượng và chất lượng với 104 xã so với tổng số 163 xã có trạm xá, đạt 63,33%.
Công tác quốc phòng - an ninh được chú trọng, trong thời kỳ 1955 - 1960 quân và dân ta đã tiêu diệt được nhiều ổ, nhóm phỉ, đặc vụ, nhiều tổ chức phản động, bắt nhiều tên cầm đầu có nợ máu với Nhân dân, triệt phá tổ chức phản động ở 02 huyện Vị Xuyên và Bắc Quang; đập tan âm mưu gây bạo loạn ở xã Lũng Cú; âm mưu nổi “Cờ trắng” ở xã Tiên Nguyên. Quân, dân Hà Giang đã kết hợp với quân, dân tỉnh Yên Bái phá tan “Đảng đánh bạc” ở vùng Vĩ Thượng (nay là xã Tiên Yên), Xuân Giang, Lục Yên, Khánh Thiện, Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai)… Những thắng lợi bước đầu trong nhiệm vụ tiễu phỉ ở Hà Giang đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thành cuộc cải cách dân chủ ở vùng cao Hà Giang.

Ngày 10/3/1965, tuyến đường thị xã Hà Giang đi Mèo Vạc (đường Hạnh Phúc) dài 166km được hoàn thành. Một niềm vinh dự lớn đối với Hà Giang, năm 1963 được Bác Hồ tặng thưởng cờ luân lưu về thành tích làm đường giao thông khá nhất miền Bắc. Công trình đường Hạnh Phúc là biểu tượng sinh động cho tinh thần vượt khó, đoàn kết và khát vọng mở đường phát triển của đồng bào các dân tộc Hà Giang. Trong điều kiện núi cao hiểm trở, giao thông cách trở, việc xây dựng tuyến đường có ý nghĩa đặc biệt đối với giao lưu giữa các vùng, thúc đẩy sản xuất, tiếp cận giáo dục, y tế và củng cố quốc phòng, an ninh. Cùng với những kết quả trong phát triển nông nghiệp, phong trào xóa mù chữ và xây dựng hệ thống y tế cơ sở, dấu ấn ấy cho thấy sức mạnh của sự đồng lòng, chung sức trong công cuộc kiến thiết miền Bắc và chi viện cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
4. Thời kỳ hợp nhất 2 tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang (1976 - 1991)
Sau ngày giải phòng Miền Nam, thống nhất đất nước, trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới, Bộ Chính trị quyết định hợp nhất 21 tỉnh, trong đó có tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, tại kỳ họp thứ hai, ngày 27/12/1975, Quốc hội khóa V quyết nghị hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên. Tỉnh có 13 huyện, thị xã, 7 thị trấn và 290 xã.
Trong những năm đầu hợp nhất, tỉnh Hà Tuyên vừa khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa đẩy mạnh sản xuất và củng cố quốc phòng, an ninh. Sản lượng lương thực quy thóc tăng từ 154.100 tấn năm 1976 lên 270.735 tấn năm 1985. Việc thực hiện khoán sản phẩm theo Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 13/01/1981 góp phần khơi dậy động lực sản xuất, từng bước cải thiện đời sống Nhân dân. Văn hóa, giáo dục, y tế tiếp tục được duy trì, phát triển; tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể được củng cố.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, quân và dân Hà Tuyên kiên cường bám trụ, chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Ngày 17/02/1979, phía Trung Quốc mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới của tỉnh; lực lượng vũ trang và Nhân dân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ các vị trí trọng yếu, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ.
Những năm tiếp theo, nhất là tại mặt trận Vị Xuyên, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới tiếp tục diễn ra ác liệt. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và Nhân dân các dân tộc Hà Tuyên kiên cường bám trụ, phối hợp chiến đấu, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những hy sinh, cống hiến to lớn trong giai đoạn này mãi là dấu ấn sâu đậm về tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất và trách nhiệm bảo vệ biên cương Tổ quốc của Nhân dân các dân tộc Hà Tuyên.
Ghi nhận thành tích trong lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, năm 1985, Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh cho quân, dân tỉnh Hà Tuyên. Đây là niềm tự hào và nguồn động viên lớn lao để Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tiếp tục vững bước trên chặng đường đổi mới.
Nhìn lại chặng đường Hà Tuyên, nổi bật là sự gắn bó, sẻ chia giữa các dân tộc hai vùng đất trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hết sức nặng nề. Trong sản xuất, tỉnh từng bước tháo gỡ những trở ngại của cơ chế quản lý cũ, khuyến khích lao động, mở rộng sản xuất nông, lâm nghiệp và chăm lo đời sống Nhân dân. Trên tuyến biên giới phía Bắc, các lực lượng vũ trang và Nhân dân kiên cường chiến đấu, bám đất, giữ làng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, trong đó mặt trận Vị Xuyên để lại dấu ấn sâu đậm về lòng yêu nước và sự hy sinh to lớn. Những thành quả và bài học của thời kỳ này là tài sản tinh thần quý báu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ quê hương.
5. Tuyên Quang giai đoạn 1991 - 2025
Năm 1991, tỉnh Hà Tuyên được chia thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Trên cơ sở kế thừa thành quả của thời kỳ Hà Tuyên, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân hai tỉnh phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khai thác tiềm năng, lợi thế từng địa phương, tạo chuyển biến trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị.
Tại địa bàn Tuyên Quang: Giai đoạn 1991 - 1995, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, với tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, cùng với sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của Trung ương, Đảng bộ và Nhân dân đã giành được nhiều thành quả quan trọng. Công tác đầu tư cho vay vào các mục đích sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả rõ nét, điều hoà lưu thông tiền tệ có nhiều tiến bộ.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong 05 năm từ 1996 - 2000, Tuyên Quang đã tạo được sự phát triển tương đối toàn diện và đồng đều trên các lĩnh vực và địa bàn, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã đề ra. Chất lượng dạy và học được nâng cao. Tỉnh tập trung củng cố, phát triển mạng lưới y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho Nhân dân, đến năm 2000 toàn tỉnh có 131 trạm y tế xã, 15 phòng khám đa khoa khu vực và 7 bệnh viện tuyến huyện, 4 bệnh viện tuyến tỉnh. Sức mạnh đoàn kết các dân tộc, mối liên hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ngày càng được tăng cường.
Trong 10 năm cùng cả nước thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, trước những thời cơ và vận hội mới, Nhân dân Tuyên Quang đã nỗ lực phấn đấu giành được nhiều kết quả tích cực. Nổi bật là đã tập trung mọi nguồn lực, tạo bước đột phá trong phát triển công nghiệp, đồng thời phát triển nông nghiệp toàn diện gắn với quá trình đô thị hóa. Đến năm 2010, có 82,2% số hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá (năm 2005 là 78,56%); tỷ lệ hộ nghèo từ 35,64% năm 2005, giảm xuống 14,85% năm 2010.
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị tiếp tục được chú trọng. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều đổi mới trong nội dung, phương thức hoạt động, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc, tăng cường mối liên hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của tỉnh.
Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá; quy mô và chất lượng nền kinh tế từng bước được nâng lên; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Giai đoạn 2010 - 2015, Tuyên Quang thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Du lịch có bước phát triển mạnh, trở thành ngành kinh tế quan trọng; nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt nhiều kết quả tích cực; đời sống Nhân dân được nâng lên rõ rệt. Giáo dục - đào tạo và y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư; chất lượng từng bước được nâng cao. Đến năm 2025, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới của tỉnh đều tăng mạnh so với năm 2010, nhiều xã đạt chuẩn nâng cao, kiểu mẫu.
Trong tiến trình đổi mới, Tuyên Quang từng bước phát huy lợi thế nông, lâm nghiệp, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa gắn với chế biến, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập của người dân. Việc đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, trường học và cơ sở y tế góp phần cải thiện điều kiện sống ở cả đô thị và nông thôn. Song hành với phát triển kinh tế, công tác xây dựng Đảng, củng cố chính quyền và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội được quan tâm. Các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, gìn giữ bản sắc văn hóa và phát huy truyền thống cách mạng trở thành động lực quan trọng trong quá trình phát triển của địa phương.
Công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm, từ trên 20% năm 2010 xuống còn khoảng dưới 10% năm 2015, dưới 5% năm 2020 và tiếp tục giảm còn 3% vào năm 2025.
Quốc phòng, quân sự địa phương được tăng cường; khu vực phòng thủ tỉnh, huyện được xây dựng ngày càng vững chắc. Lực lượng vũ trang được củng cố, nâng cao chất lượng tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trên địa bàn Hà Giang: Giai đoạn 1991 - 2000, trong điều kiện là tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn, kinh tế của tỉnh từng bước được phục hồi và phát triển, duy trì tốc độ tăng trưởng khá, có nhiều giai đoạn tăng trưởng cao hơn mức bình quân chung của cả nước, giai đoạn 1991 - 1995 tăng trưởng bình quân đạt 7,5%. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được cải thiện; hoạt động thương mại, dịch vụ bước đầu phát triển, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, công tác giáo dục được chú trọng về xây dựng cơ sở vật chất các trường học, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và chính sách cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Năm 1991, toàn tỉnh có 302 trường học, với 56.038 học sinh, 3.529 giáo viên. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 46% xuống còn 20% vào năm 2000. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường; khi tái lập tỉnh (năm 1991) Đảng bộ tỉnh Hà Giang có 12.010 đảng viên/422 tổ chức cơ sở đảng đến năm 2000, toàn Đảng bộ có trên 21 nghìn đảng viên sinh hoạt tại 615 tổ chức cơ sở đảng; vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng được phát huy, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Giai đoạn 2001 - 2010, quán triệt đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng, Hà Giang tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo bước phát triển nhanh và tương đối toàn diện.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, nhất là hệ thống giao thông nông thôn, thủy lợi, điện lưới, góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và đời sống Nhân dân, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục có nhiều tiến bộ; giáo dục, y tế được củng cố và phát triển; công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực.
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường; tổ chức cơ sở đảng được củng cố cả về số lượng và chất lượng, bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện ở cơ sở. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác phân giới, cắm mốc biên giới cơ bản hoàn thành, góp phần xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định và phát triển.
Giai đoạn 2010 - 2025, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Hà Giang tiếp tục xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phát huy nội lực, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương. Quy mô kinh tế năm 2025 đạt 40.950 tỉ đồng, tăng 1,58 lần so với năm 2020.
Đối với Hà Giang, công cuộc đổi mới diễn ra trong điều kiện xuất phát điểm thấp, địa hình chia cắt mạnh, nhiều xã vùng sâu, vùng xa, biên giới còn khó khăn. Vì vậy, cùng với phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thương mại biên giới, tỉnh tập trung nguồn lực mở đường, xây dựng hạ tầng thiết yếu, từng bước nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội của Nhân dân. Công tác giảm nghèo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn văn hóa truyền thống và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở được triển khai gắn với đặc điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Những nỗ lực ấy đã tạo chuyển biến trên nhiều lĩnh vực, đồng thời khẳng định vai trò của tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường trong quá trình phát triển vùng cao biên giới.
Hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới; giao thông, điện, viễn thông từng bước được hoàn thiện, góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân. Công tác giảm nghèo đạt kết quả rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ trên 50% năm 2010 xuống còn 15% vào năm 2025; thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 10 triệu đồng lên trên 30 triệu đồng/người/năm. Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người có công,...; phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh xã hội hóa, hoàn thành các chương trình, đề án xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh. Năm 2025 toàn tỉnh có 10,17 bác sỹ, 45,7 giường bệnh/10.000 người dân. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên.
Du lịch tiếp tục phát triển, từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng. Việc phát triển du lịch được gắn kết chặt chẽ với bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hóa, lịch sử và bản sắc văn hóa các dân tộc. Tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng, dịch vụ và các sản phẩm du lịch hấp dẫn như: Di tích lịch sử Căng Bắc Mê, Bảo tàng tỉnh, Quảng trường 26/3... Nâng cao chất lượng tổ chức sản phẩm du lịch lễ hội truyền thống của các dân tộc và lễ hội văn hóa du lịch. Lễ hội chợ Phong Lưu Khâu Vai, Khèn Mông, hoa Tam giác mạch,... Du lịch Hà Giang được vinh danh tại giải thưởng du lịch Châu Á với danh hiệu điểm đến mới nổi hàng đầu Châu Á (năm 2023), điểm đến Văn hóa hàng đầu Châu Á (năm 2024)…
Có thể khẳng định, giai đoạn 1991 - 2025 Tuyên Quang và Hà Giang đã phát huy truyền thống đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, khai thác tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, đạt nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng. Những thành quả đó là nền tảng quan trọng để hai tỉnh bước vào giai đoạn hợp nhất, mở rộng không gian phát triển từ năm 2025.
Thành tựu của Tuyên Quang và Hà Giang trong hơn ba thập kỷ đổi mới không chỉ được thể hiện ở sự phát triển của các ngành kinh tế và kết cấu hạ tầng mà còn ở sự chuyển biến trong đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc. Tại Tuyên Quang, giá trị lịch sử của Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến được gìn giữ, phát huy gắn với phát triển du lịch và giáo dục truyền thống. Tại Hà Giang, cảnh quan cao nguyên đá, ruộng bậc thang, các làng văn hóa và những nét sinh hoạt đặc sắc của đồng bào các dân tộc trở thành nguồn lực quan trọng để quảng bá hình ảnh địa phương. Những kết quả đó đã tạo tiền đề để hai địa phương khi hợp nhất có thể bổ sung lợi thế cho nhau, hình thành không gian phát triển liên kết giữa vùng trung du, miền núi và biên giới.
6. Tuyên Quang từ tháng 7/2025 đến nay
Thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, từ ngày 01/7/2025, tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang hợp nhất thành tỉnh Tuyên Quang. Đây là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của địa phương, mở ra không gian phát triển rộng lớn, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế và những giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống cách mạng của hai vùng đất. Từ một địa bàn có chung cội nguồn lịch sử và từng gắn bó trong thời kỳ tỉnh Hà Tuyên, Tuyên Quang bước vào giai đoạn phát triển mới với vị thế là tỉnh miền núi, biên giới có vai trò quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Ngay sau hợp nhất, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh tập trung kiện toàn tổ chức, vận hành đi vào nền nếp, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất và phục vụ người dân, doanh nghiệp không bị gián đoạn. Trong điều kiện địa bàn rộng, địa hình chia cắt, nhu cầu đầu tư lớn, việc thống nhất ý chí và hành động, phát huy tinh thần đoàn kết của cán bộ, đảng viên và Nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đặc biệt, công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị được triển khai quyết liệt: đã hoàn thành việc rà soát, xử lý dứt điểm 1.529/1.616 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sáp nhập (đạt 94,62%); thực hiện hoàn thành việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập, giảm từ 1.063 cơ sở xuống còn 578 cơ sở (giảm 485 cơ sở, đạt tỷ lệ 45,6%); hoàn thành giao chức năng tham mưu công tác dân vận về Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh; đồng thời thí điểm mô hình Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trực thuộc Tỉnh ủy.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là sự kiện chính trị quan trọng, xác định phương hướng phát triển của tỉnh trong không gian hành chính mới. Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, tỉnh tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhập.
Bước sang năm 2026, năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh triển khai các nhiệm vụ trong bối cảnh còn nhiều khó khăn do điều kiện hạ tầng chưa đồng bộ, nguồn lực đầu tư hạn chế, thiên tai và những biến động của thị trường. Với quyết tâm đổi mới và nỗ lực của cả hệ thống chính trị, kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng năm 2026 ước tăng 7,85% so với cùng kỳ năm trước (trong đó GRDP quý III đạt 8,26%); chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 9 tháng ước tăng 9,01% (quý III ước tăng 9,1%). Tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo triển khai điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Tuyên Quang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; quan tâm đẩy mạnh hợp tác với các Tập đoàn lớn, chuyên gia kinh tế[4], tổ chức Lễ khởi công, khánh thành nhiều công trình trọng điểm[5]. Trong 9 tháng, đã đưa thêm 02 nhà máy thủy điện (Sông Lô 5 và Nậm Lang) vào vận hành thương mại, nâng tổng số nhà máy điện trên địa bàn lên 55 nhà máy với tổng công suất 1.359,7 MW, đồng thời hoàn thành đưa vào vận hành 07 dự án công nghiệp mới. Tỉnh cũng đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh và vươn lên đứng thứ 2 cả nước về Chỉ số FTA Index năm 2025.
Trong nông nghiệp, lâm nghiệp, tỉnh chú trọng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên và môi trường. Việc triển khai chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi bước đã ghi nhận với nhiều mô hình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây trồng mới mang lại thu nhập cao[6]. Các sản phẩm OCOP tiếp tục được hỗ trợ nâng hạng sao[7] và đẩy mạnh tiêu thụ trên các sàn giao dịch thương mại điện tử. Tổng đàn vật nuôi cơ bản được duy trì ổn định[8], khuyến khích đẩy mạnh nuôi cá đặc sản bằng lồng trên sông, hồ[9]. Diện tích trồng rừng 9 tháng đầu năm 2026 ước đạt 16.507,4 ha, vượt 9,3% kế hoạch năm (tăng 5,9% so với cùng kỳ).
Kim ngạch xuất nhập khẩu ước đạt 1.075,74 triệu USD, tăng 30,21% so với cùng kỳ năm 2025 (riêng quý III năm 2026 đạt 558,09 triệu USD, tăng 59,24% so với quý II năm 2026), phản ánh nỗ lực mở rộng thị trường, phát huy lợi thế giao thương cửa khẩu, đường biên và hội nhập kinh tế. Công tác phát triển hạ tầng thương mại và xúc tiến tiêu dùng được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực; đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, đưa các mô hình "chợ số" vào hoạt động để gắn kết việc tiêu thụ sản phẩm địa phương với quảng bá du lịch[10]. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 40.823 tỷ đồng, tăng 2,1%; thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 5.731,1 tỷ đồng (bằng 79,7% dự toán Trung ương); tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 22.556,84 tỷ đồng; thu hút 20 dự án đầu tư mới với tổng vốn đăng ký trên 12.163 tỷ đồng.
Du lịch từng bước phát huy rõ hơn tiềm năng tổng hợp của tỉnh sau hợp nhất, với sự kết nối giữa các địa chỉ đỏ của cách mạng, các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn và những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng các dân tộc. Công tác tổ chức lễ hội, quảng bá hình ảnh địa phương, phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch được đẩy mạnh (đặc biệt Tuyên Quang vinh dự được Tạp chí du lịch quốc tế Time Out bình chọn vào Top 51 điểm đến đẹp nhất thế giới). Trong 9 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đón trên 3,243 triệu lượt khách (trong đó có 567.443 lượt khách quốc tế), tổng chi tiêu của khách du lịch ước đạt trên 8.984,2 tỷ đồng. Những kết quả này góp phần mở rộng cơ hội sinh kế, thúc đẩy phát triển thương mại, dịch vụ và quảng bá hình ảnh Tuyên Quang trong không gian phát triển mới.
Cùng với phát triển kinh tế, tỉnh quan tâm các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội và chính sách dân tộc, tôn giáo; chú trọng đầu tư cơ sở vật chất trường học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân, nhất là ở vùng cao, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh đã và đang tích cực triển khai xây dựng 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS tại các xã biên giới; tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho trên 143.000 lượt người dân vùng biên giới; thực hiện khám, chữa bệnh 9 tháng cho trên 2,059 triệu lượt người. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được thúc đẩy mạnh mẽ thông qua Phong trào "Bình dân học vụ số", thành lập 1.929 Tổ công nghệ số cộng đồng; phủ sóng internet cáp quang và 5G đến 100% trung tâm xã, phường, gắn với cải cách hành chính (thí điểm cơ chế "Luồng xanh", tiếp công dân trực tuyến), nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động vận động Nhân dân tham gia xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa tiếp tục được triển khai (Nhân dân đã hiến trên 21.900m² đất, đóng góp xây dựng 181km đường bê tông, thành lập trên 2.000 mô hình tự quản môi trường).
Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục được tăng cường; việc học tập, quán triệt, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và của tỉnh được tổ chức nghiêm túc. Đến tháng 10/2026, toàn Đảng bộ tỉnh có 130 đảng bộ trực thuộc, trên 400 đảng bộ cơ sở với gần 140 nghìn đảng viên; công tác phát triển đảng viên và số hóa dữ liệu hồ sơ đảng viên đạt nhiều kết quả đột phá (đã kết nạp trên 3.000 đảng viên mới, đạt 81,22% kế hoạch năm). Quốc phòng, an ninh được giữ vững; công tác quản lý, bảo vệ biên giới và hoạt động đối ngoại, hợp tác với các địa phương của Trung Quốc (như tỉnh Vân Nam, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Những kết quả bước đầu từ sau hợp nhất, nhất là trong những tháng đầu năm 2026, thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và nỗ lực đổi mới của Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Bên cạnh những thành tựu đạt được, tỉnh tiếp tục đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ hơn nữa tiềm năng, lợi thế, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng tăng trưởng và chăm lo đời sống Nhân dân.
Kỷ niệm 195 năm Ngày thành lập tỉnh Tuyên Quang là sự kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử và văn hóa sâu sắc, là dịp để cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh cùng nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng và phát triển của quê hương; ôn lại truyền thống lịch sử vẻ vang, khẳng định những thành tựu, đóng góp và những giá trị tốt đẹp được hun đúc qua các thế hệ; bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các bậc tiền nhân, các thế hệ cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và Nhân dân đã cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển quê hương. Qua đó, góp phần bồi đắp niềm tin, khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên trong mỗi cán bộ, đảng viên và người dân; củng cố quyết tâm chính trị, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, huy động mọi nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển. Từ truyền thống lịch sử và những thành tựu đã đạt được, toàn Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang tiếp tục phát huy tinh thần đổi mới, năng động, sáng tạo, quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng phát triển nhanh và bền vững, giàu đẹp, văn minh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, vững tin cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Theo tài liệu Ban Xây dựng Đảng xã Minh Quang