1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Theo Điều 1 của Nghị quyết, văn bản quy định mức chi cụ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, căn cứ khoản 1 Điều 5 Thông tư số 56/2023/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Đối tượng áp dụng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở.
Nghị quyết là căn cứ quan trọng để các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai nhiệm vụ theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi được quy định; đồng thời góp phần bảo đảm tính thống nhất, công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng kinh phí phục vụ công tác pháp luật.
2. Quy định về mức chi cụ thể
Tại Điều 2, Nghị quyết quy định mức chi cụ thể được thực hiện theo Phụ lục ban hành kèm theo. Các nội dung chi bao gồm nhiều hoạt động thiết thực phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở.
Một số nội dung chi đáng chú ý gồm:
Chi tổ chức họp đánh giá đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cấp xã:
Người chủ trì cuộc họp: mức tối đa 150.000 đồng/người/cuộc họp đối với cấp tỉnh và 90.000 đồng/người/cuộc họp đối với cấp xã.
Các thành viên tham dự: mức tối đa 100.000 đồng/người/cuộc họp đối với cấp tỉnh và 60.000 đồng/người/cuộc họp đối với cấp xã.
Chi biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật:
Biên soạn tờ gấp pháp luật, bao gồm biên soạn, biên tập, thẩm định: tối đa 1.500.000 đồng/tờ đối với cấp tỉnh và 960.000 đồng/tờ đối với cấp xã.
Biên soạn tình huống giải đáp pháp luật: tối đa 450.000 đồng/tình huống đối với cấp tỉnh và 300.000 đồng/tình huống đối với cấp xã.
Biên soạn câu chuyện pháp luật: tối đa 2.250.000 đồng/câu chuyện đối với cấp tỉnh và 1.440.000 đồng/câu chuyện đối với cấp xã.
Biên soạn tiểu phẩm pháp luật, bao gồm biên soạn, biên tập, thẩm định và lấy ý kiến chuyên gia: tối đa 7.500.000 đồng/tiểu phẩm đối với cấp tỉnh và 4.800.000 đồng/tiểu phẩm đối với cấp xã.
Chi xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật:
Nghị quyết quy định mức chi đối với các công việc như xây dựng đề cương, soạn thảo chương trình, đề án, kế hoạch; tổng hợp báo cáo tiếp thu ý kiến; tổ chức họp, tọa đàm góp ý; xét duyệt chương trình, đề án, kế hoạch và xây dựng văn bản quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn.
Ví dụ, mức chi xây dựng đề cương chi tiết tối đa là 1.200.000 đồng/đề cương đối với cấp tỉnh và 770.000 đồng/đề cương đối với cấp xã. Mức chi soạn thảo chương trình, đề án, kế hoạch tối đa là 3.000.000 đồng đối với cấp tỉnh và 1.900.000 đồng đối với cấp xã.
Chi tổ chức cuộc thi, hội thi tìm hiểu pháp luật:
Các khoản chi được quy định gồm hỗ trợ tiền ăn, tiền ở cho những người trực tiếp tham gia tổ chức và thí sinh theo điều kiện, phạm vi quy định; thuê người dẫn chương trình, hội trường, thiết bị phục vụ thi sân khấu; thuê văn nghệ, diễn viên; thu thập thông tin, tư liệu phục vụ các cuộc thi trên internet và chi giải thưởng.
Mức giải thưởng tối đa được quy định theo cấp tổ chức, loại giải và đối tượng nhận giải. Chẳng hạn, giải Nhất tập thể tối đa 15.000.000 đồng đối với cấp tỉnh và 9.600.000 đồng đối với cấp xã; giải Nhất cá nhân tối đa 9.000.000 đồng đối với cấp tỉnh và 5.800.000 đồng đối với cấp xã. Các giải Nhì, Ba, Khuyến khích và giải phụ được áp dụng theo mức cụ thể tại Phụ lục Nghị quyết.
Đối với những nội dung và mức chi không được quy định trong Nghị quyết, việc thực hiện phải tuân theo Thông tư số 56/2023/TT-BTC và các quy định pháp luật hiện hành. Trường hợp văn bản được viện dẫn giao HĐND, UBND hoặc Chủ tịch UBND tỉnh quy định mức chi cụ thể thì thực hiện theo văn bản do cơ quan có thẩm quyền của tỉnh ban hành.
Các mức nêu trên là mức chi tối đa theo Phụ lục Nghị quyết, không phải khoản chi mặc nhiên áp dụng cho mọi trường hợp. Việc lập dự toán, quyết định chi và thanh quyết toán phải căn cứ nội dung công việc, đối tượng, điều kiện thực hiện và các quy định có liên quan.

3. Quy định mức chi đối với công tác hòa giải ở cơ sở
Một trong những nội dung thiết thực của Nghị quyết số 09/2026/NQ-HĐND là quy định cụ thể mức chi phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở, góp phần hỗ trợ các tổ hòa giải thực hiện nhiệm vụ giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư.
Theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết, mức chi đối với công tác hòa giải ở cơ sở được quy định như sau:
Thù lao cho hòa giải viên trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải thành: tối đa 400.000 đồng/vụ, việc.
Thù lao cho hòa giải viên trực tiếp tham gia vụ, việc hòa giải không thành: tối đa 300.000 đồng/vụ, việc.
Hỗ trợ chi phí mai táng: bằng 05 tháng lương cơ sở đối với trường hợp hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro bị thiệt hại về tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở, theo quy định tại Nghị quyết.
Hỗ trợ hoạt động của tổ hòa giải: tối đa 150.000 đồng/tổ hòa giải/tháng để mua văn phòng phẩm, sao chụp tài liệu, nước uống phục vụ các cuộc họp của tổ hòa giải.
Các mức chi này góp phần tạo điều kiện để hòa giải viên và tổ hòa giải duy trì hoạt động, nâng cao trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Qua đó, khuyến khích việc giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng trong cộng đồng dân cư thông qua hòa giải, góp phần giữ gìn đoàn kết, hạn chế tranh chấp kéo dài và bảo đảm trật tự tại địa phương.
Việc thực hiện các khoản chi phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng nội dung, đúng mức quy định và đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định về tài chính, ngân sách.
4. Nguồn kinh phí thực hiện
Tại Điều 3, Nghị quyết quy định nguồn kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan, đơn vị, địa phương có trách nhiệm chủ động lập dự toán, quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả; thực hiện thanh quyết toán theo quy định, bảo đảm công khai, minh bạch, tránh thất thoát, lãng phí và không chi trùng lặp.
Đối với xã Minh Quang, việc thực hiện Nghị quyết cần gắn với nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và hoạt động của các tổ hòa giải trên địa bàn. Việc quản lý, sử dụng kinh phí phải căn cứ dự toán được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm vụ thực tế và các quy định hiện hành.
5. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và giám sát
Theo Điều 4 của Nghị quyết, Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị quyết theo đúng quy định của pháp luật. Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh thực hiện giám sát việc triển khai.
Trên cơ sở đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân có liên quan cần nghiên cứu, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị quyết; tổ chức thực hiện đúng quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quá trình triển khai.
Đối với đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên ở cơ sở và những người trực tiếp tham gia các hoạt động liên quan, việc nắm vững quy định về mức chi là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ đúng quy định, bảo đảm quyền lợi theo chế độ và nâng cao hiệu quả công việc.
6. Hiệu lực thi hành và các văn bản được bãi bỏ
Nghị quyết số 09/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Tuyên Quang khóa XX, Kỳ họp thứ hai (kỳ họp chuyên đề) thông qua ngày 22/4/2026 và có hiệu lực thi hành từ ngày 02/5/2026.
Kể từ thời điểm Nghị quyết có hiệu lực, các văn bản, nội dung sau được bãi bỏ theo Điều 5:
Bãi bỏ toàn bộ Nghị quyết số 24/2023/NQ-HĐND ngày 07/12/2023 của HĐND tỉnh Tuyên Quang quy định một số mức chi thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Bãi bỏ danh mục nghị quyết tại số thứ tự 15, Mục IV, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết số 51/NQ-HĐND ngày 25/8/2025 của HĐND tỉnh Tuyên Quang về việc áp dụng các nghị quyết quy phạm pháp luật của HĐND tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang trước sắp xếp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
Trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật được viện dẫn tại Nghị quyết được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế tương ứng.
7. Đẩy mạnh tuyên truyền, đưa Nghị quyết vào thực tiễn
Để Nghị quyết số 09/2026/NQ-HĐND được triển khai hiệu quả, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp như thông qua hệ thống loa truyền thanh, trang thông tin điện tử, fanpage, các hội nghị phổ biến pháp luật, sinh hoạt thôn và hoạt động của các tổ hòa giải ở cơ sở.
Nội dung tuyên truyền cần tập trung làm rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các nhóm nội dung chi, mức chi cụ thể, nguồn kinh phí và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện. Đặc biệt, cần chú trọng tuyên truyền những quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động của tổ hòa giải, mức thù lao cho hòa giải viên và khoản hỗ trợ duy trì hoạt động của tổ hòa giải để đội ngũ thực hiện nhiệm vụ nắm rõ, áp dụng thống nhất.
Cùng với đó, mỗi cán bộ, công chức, người làm công tác pháp luật và hòa giải viên ở cơ sở cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động nghiên cứu văn bản, thực hiện đúng quy định; tích cực vận động Nhân dân tìm hiểu, chấp hành pháp luật, giải quyết mâu thuẫn trên tinh thần đoàn kết, tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Việc triển khai nghiêm túc Nghị quyết số 09/2026/NQ-HĐND không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng kinh phí nhà nước mà còn tạo điều kiện để công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở ngày càng đi vào nền nếp, thiết thực. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật trong Nhân dân, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, ổn định, giữ gìn an ninh trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
T/h: Thuý Phượng